Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

Đề bài: Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

Bài làm

Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. “Bếp lửa” là bài thơ được ông sáng tác năm 1963 và được đưa vào tập thơ “Hương cây – Bếp lửa”. Bài thơ ra đời khi tác giả đang du học ở Liên Xô. Những tháng ngày xa quê hương gợi lại trong ông những kỉ niệm về bà bên bếp lửa có lẽ là nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Ba câu thơ mà có tới hai lần nhà thơ nhắc lại hình ảnh “một bếp lửa” chứng tỏ nó chứa đựng biết bao kỉ niệm khó quên của một thời thơ ấu. “Choờn ờn” vừa gợi cảnh khói lửa lại vừa làm ta liên tưởng đến bóng bà chập chờn trên vách tường. “Sương sớm” tạo không gian ký ức mờ ảo, “nồng đượm” ẩn chứa tình cảm yêu thương của tác giả dành cho những kỉ niệm xưa, để rồi dâng trào thành lời nói:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Để rồi từ đó, dòng hồi tưởng cứ dần hiện về:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy”

phan-tich-bai-tho-bep-lua

Phân tích bài thơ “Bếp lửa” – Bằng Việt

Thời thơ ấu của Bằng Việt gắn liền với bà và bếp lửa. “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” gợi cho người đọc nhớ về nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Cái đói đã làm cuộc sống trở nên khó khăn, nên chỉ cần “nhớ” đến thì người cháu cũng thấy bị ám ảnh:

“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”

“Sống mũi còn cay” – đó cả thể là bỏi vì khói bếp hay bởi vì nhớ thương những tình cảm bà dành cho cháu. Cứ vậy, kỉ niệm lại ùa về:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

“Tám năm ròng” là tám năm tuổi thơ chất chứa bao kỉ niệm với bà. Tu hú kêu được nhà thơ nhắc lại ba lần trong khổ thơ. Dường như tiếng tu hú là tiếng gọi gợi nhắc quá khứ, trở thành một phần tuổi thơ của nhà thơ Bằng Việt. Và những kỉ niệm về tình bà cháu cứ thế càng trở nên sâu đậm:

“Mẹ cùng cha công tác bận không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,”

Những năm tháng bố mẹ phải đi công tác xa nhà, cháu ở bên bà và bà vừa là cha, là mẹ, là chỗ dựa vật chất tinh thần của cháu. “Bà” và “cháu” ở bên nhau, quấn quýt không rời nên khi thấy bà vất vả, người cháu càng cảm thấy “thương” bà hơn. Một lần nữa tiếng chim tu hú lại vọng về:

“Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa ?”

Những năm tháng chiến tranh, người bà vẫn kiên cường đứng vững trước những khó khăn xảy đến:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh :

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !”

Những mất mát cứ ập đến gia đình bé nhỏ. Trong cảnh hoang tàn, hình ảnh người bà vẫn hiện lên mạnh mẽ. “Đinh ninh” diễn tả một điều gì đó chắc chắn từ trong tâm, nhẹ nhàng mà vẫn mạnh mẽ. Lời bà căn dặn cháu tuy giản đơn nhưng ẩn chứa trong đó là tình yêu và đức hi sinh vô bờ của người bà. Bà không chỉ chăm lo cho cháu mà còn quan tâm, thấu hiểu tâm lý người đang xa quê đi chiến đấu. Tình bà thật ấm áp, bao la, vì con cháu mà hết lòng hi sinh. Nếp sống sinh hoạt vẫn cứ thế tiếp tục:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”…

“Rồi sớm rồi chiều” – dòng thời giân cứ thế trôi theo đôi bàn tay nhen lửa của à, theo tình yêu của người cháu dành cho bà, Bếp lửa ấm áp tình cảm bà cháu nay đã bùng lên thành ngọn lửa của niềm tin, tình yêu. Dẫu năm tháng cứ thế trôi qua, thì ngọn lửa trong bà vẫn luôn cháy âm ỉ, vẫn luôn được bà “ủ sẵn”. Từ láy “dai dẳng” làng càng tiếp thêm sự bền bỉ của ngọn lửa ấy. Bà là người giữ và truyền ngọn lửa của sự sống cho các thế hệ mai sau.

Từ ngọn lửa đó, nhà thơ có những suy ngẫm về cuộc đời bà:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

“Lận đận đời bà” – cuộc đời bà vất vả với những biến đổi và thăng trầm của cuộc sống “nắng mưa” thất thường. Nhưng những khó khăn đó không làm mất đi những thói quen thường nhật trong nếp sống sinh hoạt của bà. “Mấy chục năm rồi” và “đến tận bây giờ” – một khoảng thòi gian dài và có từ rất lâu, bà vẫn tảo tần, cần mẫn nhóm bếp lửa, nhóm từng củ khoai, củ sắn, nồi xôi nuôi dưỡng tuổi thơ và tâm hồn người cháu. Hình ảnh người bà thật giản dị, gần gũi, đã khơi dậy bao ký ức tuổi thơ êm đềm, truyền sức mạnh niềm tin để người cháu mai này vững bước trên con đường đời. Để rồi khi nhớ lại, người cháu phải thốt lên:

“Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !”

Câu thơ với từ cảm thán “ôi” như chất chứa, dồn nén biết bao điều. Bếp kuawr đem đến những điều “kì lạ”: nhóm dậy cả một tuổi thơ đầy ắp bao kỉ niệm, mà cũng thật “thiêng liêng” những ân tình của người bà tần tảo giàu đức hi sinh.

Để mai này, khi đến với những đất xa xôi, mang bao kỉ niệm buồn vui ở mỗi nơi đặt chân đến, người cháu vẫn luôn nhớ đến bà:

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở :

– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?…”

“Bếp lửa” giờ đây đã thực sự trở thành kỉ niệm ấm áp, là niềm tin đi theo nhà thơ suốt cả cuộc đời.

“Bếp lửa” là sự chắt lọc những kỉ niệm thời thơ ấu của nhà thơ Bằng Việt khi được ở bên người bà thân yêu. Bà thơ thể hiện tình yêu và lòng kính trọng của tác giả với người bà và đồng thời  khơi dậy tình yêu thương gia đình trong mỗi một con người. Ở đâu đó quanh ta cũng có một “bếp lửa” ấm áp, bình dị.

Từ khóa tìm kiếm:

  • phân tích bếp lửa (1)
  • phân tích bếp lửa bằng viẹt (1)
  • phân tích con là lửa ấm quanh đời mẹ mãi (1)
LIKE VĂN MẪU TRÊN FACEBOOK ĐỂ THEO DÕI CÁC BÀI VĂN NHÉ!

Bài liên quan

Comments are closed.